Tục cấp sắc – Một nét độc đáo của người dao

Gọi là lễ cấp sắc vì trong lễ này, người thầy cúng cấp cho người thụ lễ một hay hai đạo sắc. Các đạo sắc đều giống nhau, thường là các tờ giấy bản gán ghép lại khổ khoảng 80 x 50. Sắc này viết bằng chữ Hán với các nội dung sau:

-         Lai lịch của người được cấp sắc.

-         Nguyên do lễ cấp sắc.

-         Mười điều giáo huấn cho người thụ lễ.

-         Họ, tên thầy cúng và ấn tín do người thầy cúng đóng vào đạo sắc.

Đạo sắc được người thụ lễ giữ gìn rất cẩn thận. Nếu để mất thì đó là một tai họa lớn. Mang đạo sắc cho người khác xem là điều cấm kị. Chỉ khi nào người thụ lễ trở thành thầy cúng thực sự và được đi làm lễ cấp sắc cho người khác thì người ta mới dùng đến đạo sắc. Có thể coi đạo sắc như một bảo bối, như bùa hộ mệnh đối với người đàn ông Dao. ở người Dao quần trắng và Dao Thanh Y, sắc được chôn theo khi chủ nhân của nó qua đời. Một đạo sắc đặt dưới lưng, một đạo sắc đắp trên bụng. Họ cho như vậy hồn  người chết xuống âm phủ không bị quỷ sứ bắt nạt, xác người chết khi chưa chôn không bị quỷ sứ cắp mất.

Cấp sắc được coi là lập tịnh hay lập tính, có nghĩa là làm cho trong sạch; cũng có nơi người ta hiểu lập tính có nghĩa là nhập họ. Nhập họ tức là được công nhận là con cháu Bàn Vương. Tùy theo từng ngành, từng nhóm tuổi quy định cấp sắc không thống nhất. Thông thường quy định ở tuổi từ 12-16, nhóm quy định sớm hơn hoặc muộn hơn. Người khác tộc (tộc người khác) làm con nuôi người Dao cũng được làm lễ cấp sắc.

Theo quy định, người nào không qua lễ cấp sắc (quá tang) thì dù chết già cũng không được về với tổ tiên và lúc sống không đủ tư cách cúng bái cha mẹ. Vì thế, trước đây nhiều người do nghèo quá mà phải nợ lễ cấp sắc đến già, con cháu phải gắng tổ chức cho bố mình.

Trước khi làm lễ cấp sắc, người con trai phải qua lễ “đặt tên âm”. Lễ này có thể làm trước lễ cấp sắc một, hai năm. Ngày nay người ta thường làm lễ này trước một vài tháng, có khi chỉ trước 10 ngày. Lễ đặt tên âm kị các năm tuổi lẻ (11, 13, 15). Người làm lễ đặt tên âm thường là cậu (anh hoặc em trai mẹ) của người thụ lễ nhưng với tư cách là thầy cúng. Thầy cúng viết ba cái tên vào ba mảnh giấy: Tên do thầy đặt, tên do bố mẹ người chịu lễ đặt, tên thường gọi của anh ta. Ba tờ giấy gấp lại như ba phiếu kín đặt trên bàn thờ khói hương nghi ngút. Người con trai nhón lấy một trong ba phiếu đó. Nếu nhón phải đúng tờ giấy ghi tên thường gọi của mình, anh ta phải nhón lại sau khi thầy cúng đã làm phép xin thần thánh.

Trước khi làm lễ khoảng một tuần, người thụ lễ phải thông qua thủ tục nhận người thầy cúng làm lễ cấp sắc cho mình là bố và vợ ông ta làm mẹ. Sau nghi thức này, người con trai thụ lễ phải thể hiện sự lột xác thật sự. Có thể nói đây là giai đoạn thử thách. Anh ta kông được vui đùa, không được ăn thức ăn có mỡ động vật, không được nhìn phụ nữ, không được gần vợ (nếu đã có vợ), phải nằm ở một chiếc giường đã được định sẵn. Trong thời kỳ này cấm người thụ lễ sát sinh, vì như nếu có muỗi đốt anh ta cũng không được đập chết mà chỉ được xua đi. Nếu có ai gây sự, không được cãi cọ hay chống trả kể cả đối tượng gây sự là trẻ nhỏ.

Mùa làm lễ cấp sắc được bắt đầu thường từ tháng chín năm trước đến tháng hai năm sau âm lịch. Thời gian làm lễ từ một đến hai ngày đêm, tùy điều kiện từng gia đình. Ngày làm lễ nhằm ngày tốt đã chọn, gia đình có người thụ lễ mời thầy cúng đến nhà làm lễ, mời dân bản đến chứng kiến và giúp việc nhà. Nghi lễ cấp sắc thường có hai loại phổ biến là “cấp sắc ngoài” và “cấp sắc trong”.

Cấp sắc ngoài được tiến hành ở ngoài phạm vi ngôi nhà đang ở của gia chủ. Một dàn lễ được dựng lên cách nhà không xa lắm. Người thụ lễ được đưa lên dàn và anh ta phải ngồi co như con tôm ở tư thế bào thai trong bụng mẹ, mặt luôn hướng về phía Nam. Người thụ lễ phải thực hiện động tác ngã từ trên dàn xuống và giả vờ chết. Lúc này các thầy cúng mang theo hai đạo sắc đã viết sẵn có đề ngày tháng làm lễ và đóng ấn vào đấy. Thông thường mỗi đạo sắc thường có 10 độ, 10 cấm, 10 nguyện, 10 hỏi. Một số ngành Dao, trong đạo sắc chỉ ghi 10 điều cấm, hoặc có ghi 10 độ, 10 nguyện, 10 hỏi nhưng không đọc trong buổi lễ.

Cấp sắc trong được tiến hành vào đêm thứ hai. Trong nhà cỗ bàn đã sẵn sàng. Lợn béo đã mổ, đầu lợn đã bày ở giữa, hướng về phía bàn thờ, xung quanh là rượu, thịt, xôi. Trước bàn thờ Bàn Vương là bàn thờ tổ tiên dòng họ đặt ở góc cạnh gian chính giữa nhà. Ông thầy cả trịnh trọng thắp hương khấn vái Bàn Vương và tổ tiên, mời các thần thánh về chứng giám.

Việc bố trí đèn, nến, tư thế ngồi của người thụ lễ và những thủ tục hành lễ, tùy ngành Dao cũng có khác nhau. Xin nêu một vài hình thức sau đây.

Người thụ lễ được dẫn đến ngồi trên một chiếc ghế bốn chân (cho cấp sắc bảy đèn) hoặc ghế một chân trên đế gỗ hình vuông hay chữ nhật (cho cấp sắc ba đèn) cao độ 40 cm đặt trước bàn thờ trong nhà. Người thụ lễ bị đẩy ngã ba lần; sau đó các thầy cúng lần lượt dùng chỉ ngũ sắc buộc hia đồng tiền vào tóc người được cấp sắc rồi bắt đầu việc cầu cúng. Cũng có trường hợp, người ta hớt mấy sợi tóc của người thụ lễ xâu ba đồng tiền, sau đó tung lên cho người thụ lễ bắt rồi mới đi vào các nghi lễ cầu cúng. Cúng xong, các đồng tiền có món tóc xâu qua được cắt đi, bây giờ các thầy lần lượt đặt đèn lên một số bộ phận cơ thể anh ta. Thầy cả đặt ban lần lên ngực, trán, đỉnh đầu. Thầy hai đặt ba lần về phía trái, phía phải, sau lưng. Thầy ba đăth ba lần lên đầu gối bên phải, đầu gối bên trái và hai tay chắp lại. Đặt đèn như vậy với dụng ý soi sáng cho cơ thể và tẩy rửa tất cả tội lỗi, để người cấp sắc được trong sạch. Sau đó các thầy cúng lần lượt đóng ấn cho người thụ lễ. Lúc này đạo sắc âm được đổi đi, đạo sắc dương thì giữ lại cho người được thụ lễ.

Đặt giữa gian chính một cây đèn làm bằng tre hoặc nứa, cao chừng 1-1,5 m, có gắn các đèn trên đỉnh và xung quanh. Các đèn được đốt sáng bằng dầu quả cây lai. Chàng trai và vợ (nếu có) ngồi đối diện thầy cúng qua cây đèn. Ông thầy cả ngồi trước đèn, xiêm mũ xênh xang, tay nâng cuốn sách chữ Hán hoặc chữ Nôm Dao. Các nghi thức cầu cúng cũng có nhiều mức tùy theo ngành Dao hoặc điều kiện chuẩn bị của gia chủ. Trong khi hành lễ thường có nhạc. Dàn nhạc có trống, chuông, thanh la, kèn pí lè nổi lên dồn dập báo hiệu cuộc lễ. Với dọng trầm hùng, thầy cúng kể về lịch sử phát triển của người Dao, về công đức của Bàn Vương, tổ tiên dòng họ (…), hỡi những thần linh, thổ công thổ địa, chàng trai này tên tự (…) ở nhà yên, ở rừng tốt, anh ta đã biết cày ruộng, làm nương, trồng chuối – chuối sai, trồng mía – mía ngọt, biết diệt trừ thú dữ, biết bảo vệ mùa màng. Anh ta tuổi đã lớn, trí đã khôn. Nay nhờ Bàn Vương, tổ tiên dòng họ (…), nhờ các thần linh, thổ công, thổ địa phù hộ độ trì giúp anh ta có hơi thở mới, có nguồn sức sống mới, có tên gọi mới, có bắp thịt mềm dẻo và cứng như cây gỗ đinh, gỗ nghiến trong rừng để anh ta luôn bình yên, làm ăn thuận lợi, mùa màng bội thu, lúa ngô đầy ắp trên giàn. Lợn thiến đã mổ, rượu ngon đã mở nút, xin mời Bàn Vương, tổ tiên, thần linh thổ địa cùng về thụ hưởng. Cầu cho mọi việc từ nay tốt lành, cầu cho chàng trai xứng đáng là người đàn ông Dao, biết gánh vác mọi công việc của bản làng.

Sau lời khấn của thầy, mọi người trong buổi lễ im lặng giây lát trong thời gian và không giân thiêng liêng như chờ cho lời khấn của thầy cúng cũng là tâm nguyện của mọi người về tới cõi xa xăm, tiếng kèn, chuông chũm chọe, tiếng trống lại nổi lên dồn dập. Điệu múa cấp sắc với đường kiếm say sưa, khỏe mạnh, dẻo dai, uyển chuyển bắt đầu. Các bài múa trong lễ cấp sắc là sự hồi quang một cách nghệ thuật những chặng đường quan trọng của lịch sử phát triển, đồng thời thể hiện quan điểm về vũ trụ, về loài người và vạn vật, tái hiện cuộc sống lao động và tình cảm trong lành vui nhộn của người Dao.

Đêm đã khuya, đuốc vẫn sáng, chàng trai vẫn ngồi trước cây đèn trong trang phục ngày lễ. Dàn nhạc chỉ còn chũm chọe đều đều, thầy cúng khấn thần, tổ tiên cầu cho chàng trai gặp nhiều may mắn. Khi tiếng nhạc im lặng, thầy cúng trịnh trọng nói: “Hỡi bà con dân bản (…), hôm nay bản ta có thêm một người đàn ông khỏe mạnh, dũng cảm. Thay mặt tổ tiên, tôi căn dặn 10 điều răn dạy của Bàn Vương để cái đầu chàng trai này luôn nghĩ điều tốt, cái bụng chàng trai này luôn sạch như nước suối ban mai đầu bản”.

Thầy cúng nâng cuốn sách lên tay, lần giở từng trang, trịnh trọng đọc (tạm dịch ý):

1.     Không được chửi trời, chửi đất, chửi mặt trăng.

2.     Không được vô lễ với bố mẹ.

3.     Không được sát hại sinh linh.

4.     không được học điều xấu.

5.     Không được dâm ô, hủ hóa, phải ăn ở phân minh như nước suối rừng.

6.     Không được trộm cắp, lấy cái của người khác mang về làm của mình.

7.     Không được khinh thường anh em nghèo khổ bơ vơ.

8.     Dù có rắn, hổ, mưa to, bão lớn…mà có người đến nhờ sẵn lòng đi giúp ngay.

9.     Không tham giàu mà chê người nghèo khó.

10.  Không được chửi thánh thần, ham danh lợi.

( 10 điều răn này thể hiện tinh thần cơ bản 10 điều cấm trong đạo sắc, cúng có những bản văn khác thêm bớt không đáng kể).

Thường thì khi thầy cúng dạy xong cũng là lúc bình minh rạng sáng. Như thay mặt Bàn Vương, thầy trao cho chàng trai hài tờ sớ (tức chứng chỉ cấp sắc được làm bằng giấy bản, có in nội dung chứng nhận màu đỏ, ở giữa có đóng triện vuông màu đỏ). Sau đó, trước sự chứng kiến của bà con dân bản, thầy dẫn chàng trai ra ngoài cửa chính. Chàng trai thổi vang ba hồi tù và, và mời Ngọc Hoàng xuống chứng kiến. Trở vào trong nhà, trong không khí thiêng liêng và trật tự, chàng trai thắp hương kính cẩn lễ vái Bàn Vương, tổ tiên dòng họ, lễ vái ông bà, bố mẹ, lễ vái thầy cúng, lễ vái anh em (vai trên) và họ hàng thân tộc. Từ lúc này chàng trai đã được mang tên gọi mới, được cả cộng đồng công nhận đã thực sự trưởng thành, có đủ uy tín để đảm đương những công việc lớn của gia đình và bản làng. Bản làng Dao tiếp nhận một thành viên mới bằng lễ cấp sắc độc đáo và đầy ấn tượng.

Như vậy xét về mặt hình thức, tục cấp sắc của người Dao là một hiện tượng mê tín và gây nhiều tốn phí về thời gian và tiền của. Nhưng xét về mặt thực tiễn tục này có ý nghĩa giáo dục, dù các nội dung đó được tiếp nhận bằng “sự phục tùng tôn giáo”. Lễ cấp sắc còn là sinh hoạt cộng đồng của dòng họ, bản làng. Chỉ qua lễ cấp sắc người thanh niên Dao mới được coi là người đàn ông thực sự, mới có thể dạy chữ, dạy cúng và nghề thầy cúng được người Dao rất coi trọng. Cũng như các dân tộc khác, thầy giáo, thầy cúng, thầy thuốc là ba nghề người Dao rất đề cao. Tất nhiên tục cấp sắc cũng có nhiều mặt hạn chế, nhưng gạt sang một bên những hạn chế chúng ta vẫn thấy lấp lánh những giá trị nhân văn của nó. Những nội dung giáo dục của cấp sắc vẫn còn có ý nghĩa, vẫn phù hợp với tinh thần “tiên học lễ, hậu học văn” – phương châm sống của cha ông ta từ ngàn xưa mà nền giáo dục hiện đại ngày nay vẫn coi trọng.

 


Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 963
Đã truy cập: 882126