Xã Đồng Sơn

03/05/2019

 

XÃ ĐỒNG SƠN

 Tên cơ quan: Đảng Uỷ - HĐND -UBND xã Đồng Sơn

Địa chỉ: Thôn Tân Ôc 1 - Xã Đồng Sơn - Huyện Hoành Bồ - Tỉnh Quảng Ninh

Điện thoại: 02033.692.908.

Email: ubnddongson.hb@quangninh.gov.vn

 

Trụ sở ĐU-HĐND-UBND xã Đồng Sơn

TRỤ SỞ UBND XÃ ĐỒNG SƠN  

 

                     I. BỘ MÁY TỔ CHỨC 

              - Các đồng chí lãnh đạo

 

Đồng chí: Bùi Vĩnh Dương

Chức vụ: Bí thư Đảng uỷ xã

Trình độ : Đại học TDTT, Đại học kinh tế

LLCT: Trung cấp

Số điện thoại: 0913.198.656

Email: buivinhduong@quangninh.gov.vn

 

 

 

 

Đồng chí : Linh Du Minh

  Chức vụ: HUV,Chủ tịch HĐND xã 

Trình độ chuyên môn: Kỹ sư Nông nghiệp

 Trình độ LLCT: Trung cấp

 Số ĐT: 0965.872.059

 Email:

 

Đồng chí : Trần Đình Giang

Chức vụ: Phó Bí thư Thường trực

Trình độ chuyên môn: Đại học

Trình độ LLCT: Trung cấp

Số điện thoại: 0203699275; 0836.914.314

Email: trandinhgiang@quangninh.gov.vn

 

 

Đồng chí : Đặng Minh Ngân

 Chức vụ: Phó Bí thư Đảng Uỷ;

Chủ tịch UBND xã Đồng Sơn

Trình độ chuyên môn: Đại học

Trình độ LLCT: Cao Cấp

Số ĐT: 0169.678.7978.

Email:

 

 

 

Đồng chí: Bàn Ban Ngân

Chức vụ: Phó Chủ tịch HĐND xã Đồng Sơn

 Trình độ chuyên môn: Đại học

Trình độ LLCT: Trung cấp

  Số ĐT:

Email:

 

 

Đồng chí: Linh Du Thành

  Chức vụ:  Phó Bí thư Thường trực 

xã Đồng Sơn 

  Trình độ chuyên môn: Đại học

 Trình độ LLCT: Trung cấp

 Số ĐT: 

Email:

 

                         II. THÔNG TIN CHUNG 

Uỷ Ban nhân dân xã Đồng Sơn được thành lập theo Quyết định của Hội đồng bộ trưởng, Quyết Định số 77 – HĐBT ngày 15/7/1983 trên cơ sở chia tách xã Đồng Quặng thành 02 xã lấy tên là Đồng Lâm và xã Đồng Sơn thuộc huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh. Địa giới xã Đồng Sơn ở phía bắc giáp xã Minh Cầm của huyện Ba Chẽ, phía nam giáp xã Đồng Lâm, phía đông giáp xã Kỳ Thượng, phía tây giáp xã Long Sơn và xã Đồng Liễu của huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.

 

Hình ảnh văn hóa vật chất của UBND xã Đồng Sơn

 

              1. Điều kiện tự nhiên

a)Vị trị địa lý

Xã Đồng Sơn nằm ở phía Bắc huyện Hoành Bồ cách trung tâm huyện  khoảng 35km, xã có 4 thôn là Tân Ốc 1, Tân Ốc 2, Phủ Liễn, Khe  Càn. Xã giáp danh các địa phương như sau:

          - Phía Đông giáp xã Kỳ Thượng;

          - Phía Tây giáp xã Dương Hưu( Sơn Động- Bắc Giang );

          - Phía Nam giáp xã Đồng Lâm;

          - Phía Bắc giáp xã Minh Cầm, Lương Mông huyện Ba Chẽ- Quảng Ninh.

b)Đặc điểm địa hình, khí hậu

* Địa hình: Địa hình Đồng Sơn tương đối đa dạng phân dị thuộc loại địa hình đồi núi, đại bộ phận nằm trong hệ thống cánh cung bình phong Đông Triều - Móng Cái. Đồi núi chiếm phần lớn diện tích của xã có độ cao trung bình từ 150 - 250m sắp xếp theo dạng bát úp và cấu tạo bởi đá lục nguyên, có độ dốc từ 12 - 35o. Địa hình đồi núi có mật độ chia cắt trung bình từ 1.5 - 2km, quá trình phong hóa xói mòn diễn ra mạnh. Đây là vùng có khả năng quy hoạch trồng rừng lẫy gỗ thuận lợi.

Đồng Sơn là xã miền núi nên chịu ảnh hưởng của vùng khí hậu Đông Bắc tạo ra những tiểu vùng sinh thái hỗn hợp, là khu vực nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, có 4 mùa rõ rệt.

* Nhiệt độ không khí:

Nhiệt độ trung bình năm là 23,70C (nhiệt độ tối cao là 36,60C; nhiệt độ tối thấp là 5,50C). Nhiệt độ thấp thường bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau, cao dần từ tháng 4 đến tháng 8. Hàng năm ở xã có số ngày giá lạnh dưới 100C thường xuất hiện khoảng 2-3 ngày, số ngày nóng trên 300C khoảng 6-7 ngày, nhiệt độ giao động từ 15-250C khoảng 170 ngày trong năm.

* Độ ẩm không khí:

Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình năm trên 80%, cao nhất vào tháng 3 và tháng 4 đạt tới 88%, thấp nhất vào tháng 10 và tháng 11 đạt trị số 76%.

* Lượng mưa:

Là xã chịu ảnh hưởng của khí hậu đông bắc nên lượng mưa trung bình năm 1.786 mm, năm cao nhất khoảng 2.852 mm, năm thấp nhất khoảng 870 mm, lượng mưa ở đây phân theo 2 mùa rõ rệt, mùa mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 9, tập trung chiếm từ 75-85% tổng lượng mưa hàng năm, mưa ít từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, tổng lượng mưa chỉ đạt từ 15-25%/năm.

* Gió:

Có 2 loại gió chủ đạo thổi theo 2 mùa rõ rệt:

-  Mùa hè: gió thổi theo hướng Đông Nam và hướng Nam từ tháng 5 đến tháng 9, gió thổi từ vịnh vào mang nhiều hơi nước gây ra mưa, tốc độ gió trung bình khoảng 3-3,4m/s tạo ra luồng không khí mát mẻ.

 Mùa đông gió thổi theo hướng Bắc và Đông Bắc từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, tốc độ gió trung bình khoảng 2,98m/s, đặc biệt gió mùa Đông Bắc tràn về thường lạnh, giá rét, thời tiết hanh khô ảnh hưởng đến gia súc và sản xuất nông nghiệp.

 Tích ôn hữu hiệu là 8.0000C

Tóm lại: nhìn chung khí hậu xã có nhiều thuận lợi cho phát triển nông – lâm nghiệp.

c) Diện tích đất đai

          Đất đai của xã phân thành 2 vùng, vùng đất bằng và vùng đất đồi núi, Tổng diện tích đât tự nhiên của xã là: 12.700,46 ha gồm:

                   Nhóm đất nông nghiệp:                  11.860,22 ha

-    Đất sản xuất nông nghiệp:  324,21 ha

                   + Đất trồng cây hàng năm:  196,42

                   + Đất trồng lúa:  153,40                 

                   + Đất trồng cây hàng năm khác:  43,02

                   + Đất trồng cây lâu năm: 127,79

-   Đất lâm nghiệp: 11.534,31 ha       

+ Đất rừng sản xuất:  8.027,05

+ Đất rừng đặc dụng: 3.507,27 ha

+ Đất nuôi trồng thủy sản:1,70 ha

                   Nhóm đất phi nông nghiệp: 179,23ha

-         Đất ở:  29,00ha

-         Đất chuyên dùng: 79,36 ha

-         Đất tín ngưỡng, tôn giáo: 0,22ha

-         Đất nghĩa địa:  2,89ha

-         Đất sông ngòi, kênh rạch:   67,77ha

Nhóm đất chưa sử dụng:  661,00 ha

-         Đất bằng chưa sử dụng:    4,18 ha

-         Đất đồi núi chưa sử dụng:   596,83 ha

  Đối với diện tích đất trên thì đồi núi chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của xã, độ cao trung bình gần 700 m, sắp xếp theo dạng bát úp và có độ dốc từ 12 – 35o.. Địa hình đồi có độ chia cắt trung bình từ 1,5 – 2 km.

2. Điều kiện kinh tế - xã hội .

- Tổng số hộ năm 2015 là: 630 hộ; nhân khẩu:   2.787 người. Trong đó chủ yếu là đồng bào dân tộc dao chiếm 99%.

- Số người trong độ tuổi lao động năm 2015 là 1.525/ 2.787 người, chiếm 54,7% đây là một lực lượng lao động rất dồi dào, góp phần phát triển kinh tế địa phương. Nhưng với số lao động đông đảo như hiện nay, mà công việc nông nghiệp lại mang tính chất mùa vụ nên tình trạng thiếu việc làm trong thời gian nông nhàn lá rất lớn không thể tránh khỏi. Vì vậy để giải việc làm cho lao động nông thôn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương trong tương lai, trong thời gian tới nên có những lớp đào tạo nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn.

- Tổng số lao động năm 2105 là  1.490 người ( chiếm 53,5% dân số toàn xã), trong đó: số lao động nông, lâm nghiệp ( 950 người, chiếm 63,8%); số người lao động có trình độ đã qua đào tạo ( 55 người, chiếm 3,7%);  số người lao động đã qua tập huấn kỹ thuật cộng đồng ( 320 người, chiếm 21,5%).

Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 ước đạt 15,2 triệu đồng/năm, chủ yếu thu nhập từ sản xuất nông, lâm nghiệp.

3. Di tích lịch sử - văn hoá

 Ở Xã Đồng Sơn, có “Lễ Cấp sắc” người Dao Thanh Phán, tên  gọi khác là “Lễ Bàn Cổ”. Một thanh niên người Dao được tổ chức Lễ Cấp sắc là dịp cộng đồng nghe lại lịch sử hình thành dân tộc mình, tạo nên sự tự tôn dân tộc, ghi nhớ công lao to lớn của tổ tiên, từ đó răn dạy mỗi người có cách sống sao cho xứng đáng với truyền thống tốt đẹp. Đó là sự hướng tới việc thiện, không làm điều ác, biết tôn trọng thầy, biết ơn cha mẹ, trung thực và giàu lòng vị tha ... Những lời giáo huấn này được thực hiện bằng lời thề dưới sự chứng giám của thần linh, trời đất, tổ tiên và cộng đồng dòng tộc. Trong Lễ Cấp sắc còn có nhiều bài hát, điệu múa, tiết múa độc đáo; trang phục, đạo cụ phong phú, đa dạng. Lễ Cấp sắc của người Dao Thanh Phán được coi như một kho tàng văn hóa cổ truyền có gía trị văn hóa nghệ thuật đặc sắc và tính giáo dục cao.

-    Giá trị lịch sử 

Lễ Cấp sắc của người Dao Thanh Phán nói riêng và người Dao nói chung cung cấp một số tư liệu về nguồn gốc dân tộc, quá trình di cư và những sinh hoạt văn hóa, xã hội của cộng đồng. Trước hết là những câu chuyện truyền thuyết, những bài ca đọc trong nghi lễ cấp sắc là những tài liệu quý để tìm hiểu về nguồn gốc tộc người đó là sự tích Bàn Vương. Những câu chuyện hay, những bài thơ dài không dừng lại ở sự tích Bàn Vương mà còn nói về quá trình di cư của tổ tiên họ vào Việt Nam như thế nào.    

Qua Lễ Cấp sắc, ta cũng thấy được Đạo giáo ảnh hưởng khá sâu đậm trong tục lệ sinh hoạt của người Dao và được họ tiếp thu và cải biến đi nhiều. Tất cả mọi người đàn ông của dân tộc Dao đều phải qua Lễ Cấp sắc Đạo giáo. Ai không qua Lễ Cấp sắc thì dù chết già linh hồn họ cũng không được về với tổ tiên (Bàn vương), lúc sống cũng không được cúng bái cha mẹ, cao hơn nữa là Bàn Vương, quan niệm "Ai không làm Lễ Cấp sắc sẽ không được công nhận là con cháu Bàn Vương" đã đi vào tiềm thức người Dao Thanh Phán. Tục lệ này khẳng định tính phổ biến của Đạo giáo ở người Dao. Từ cái ngoại sinh trở thành cái nội sinh tồn tại đến tận ngày nay. Đó chính là sự xâm nhập của Đạo giáo vào tín ngưỡng, phong tục tập quán của người Dao nói chung và người Dao Thanh Phán nói riêng thông qua Lễ Cấp sắc.

 

Lễ Cấp sắc của người Dao Thanh Phán

 

-    Giá trị văn hóa, nghệ thuật

Có thể nói Lễ Cấp sắc là một di sản văn hoá quý báu có giá trị nghệ thuật độc đáo của tộc người Dao. Trong Lễ Cấp sắc có nhiều loại hình văn hoá nghệ thuật được trình diễn. Các loại nhạc cụ dân tộc như trống, kèn, thanh la, não bạt, chuông con, tù và… được sử dụng trong Lễ Cấp sắc có khả năng biểu cảm khác nhau, khi hoà tấu trở thành một dàn nhạc dân tộc rất độc đáo. Âm nhạc trong Lễ Cấp sắc cũng rất đa dạng tuỳ thuộc vào mỗi lễ thức cụ thể, có khi rất tĩnh nghiêm, trầm lắng, có khi lại sôi động, vui nhộntùy thuộc vào từng lễ nhỏ trong Nghi lễ cấp sắc (như Lễ dâng hương, Lễ thượng quang, Lễ Bàn Vương) 

Bên cạnh đó, những cuốn sách nôm dao cổ với những bài thơ, những lời ca; những câu ca dao, tục ngữ; những điệu nhảy trong Lễ Cấp sắc rất độc đáo và mang tính vũ đạo cao. Bộ tranh thờ 18 bức vẽ các nhân vật và sự tích Đạo giáo là những tác phẩm hội hoạ có giá trị, vì nó không chỉ giúp cho việc nghiên cứu sâu về tôn giáo mà còn giúp cho việc nghiên cứu về nghệ thuật tạo hình dân gian của các dân tộc thiểu số ở nước ta. Trang phục trong Lễ Cấp sắc cũng là một yếu tố rất quan trọng, nó không chỉ làm cho màu sắc của lễ hội thêm rực rỡ mà thông qua các hoạ tiết hoa văn trang trí trên áo thầy cúng, trên trang phục người được cấp sắc và trang phục cô dâu đã thể hiện sinh động tâm lý, thị hiếu thẩm mỹ của đồng bào Dao, kỹ năng thêu thùa, lao động sáng tạo, đức tính kiên nhẫn, của người phụ nữ dân tộc Dao trong nghệ thuật may thêu trang phục truyền thống.

 


Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 1039
Đã truy cập: 1157205